Trí Khôn Con Người Hay Sự “Tỏ Ra” Và Quyền Phép?



Anh T.H thân mến!

Qua cuộc nói chuyện hôm thứ hai vừa rồi, sau đó tôi cũng đã cầu nguyện. Sau đây là những gì tôi bày tỏ suy nghĩ cũng như quan điểm của mình. Mong rằng Chúa cũng sẽ cho anh hiểu được tâm tình của tôi.



1. Lấy lòng yêu thương nói ra lẽ chơn thật



“Ngài muốn chúng ta không như trẻ con nữa, bị người ta lừa đảo, bị mưu chước dỗ dành làm cho lầm lạc, mà day động và dời đổi theo chiều gió của đạo lạc, nhưng muốn cho chúng ta lấy lòng yêu thương nói ra lẽ chơn thật, để trong mọi việc chúng ta đều được thêm lên trong Đấng làm đầu, tức là Đấng Christ.” (Ê-phê-sô 4: 14-15)



Chúa muốn chúng ta lấy tình yêu thương mà nói ra lẽ chơn thật. Không vì định kiến hẹp hòi, không vì bảo vệ quan điểm hay là bất cứ điều gì khác. Mỗi người mình suy nghĩ ra sao, cảm nhận như thế nào hãy nói ra trong sự chân tình và trong lẽ thật. Những gì tôi nói ra đây là nghĩ sao nói vậy, trong tình yêu thương và sự nhẫn nại.



Dù gì thì anh T. cũng đứng ở góc độ của một người chưa từng kinh nghiệm nói tiếng lạ. Cho nên theo tôi, tất cả những nhận xét, đánh giá của anh đều không thể nào là chính xác hoàn toàn, thậm chí là sai, nhưng tôi không muốn chỉ ra những điểm sai của anh ở đây. Vì sao anh khao khát mà không nhận được “báp tem trong Thánh Linh” hay là ân tứ nói tiếng lạ, thì đó là vấn đề giữa anh và Chúa, tôi không thể nào trả lời câu này được. Nhưng không phải vì Chúa không trả lời, hoặc không cho anh nhận được như bao người khác để anh làm việc chung với họ, thì anh cho rằng… tiếng lạ là không đến từ Chúa. Anh đã tự “toàn vẹn hóa” chính mình, và cho rằng vì Chúa không đáp lời anh cho nên điều đó là không đến từ Chúa. Nhưng theo tôi, một trong những lý do mà người ta không nhận được sự “báp tem trong Thánh Linh” là vì: “Ngài không đoái đến kẻ nào tưởng mình khôn ngoan.” - Trường hợp của anh có thể là ngoại lệ. Lý do nào anh không nhận được thì tôi không rỏ. Mặc dù anh nói là anh không chống việc “nói tiếng lạ,” nhưng trong cách của anh, là anh đang chống. Anh đòi hỏi là phải có sự xác chứng, nhưng sự đòi hỏi đó là không đúng. Có những người họ đã tự cầu nguyện tin Chúa qua một cuốn sách mà không cần ai xác chứng, nhưng “Có mấy lời như ấn đóng rằng: Chúa biết kẻ thuộc về Ngài” (II Ti-mô-thê 2: 19). Trường hợp đã xảy ra: Có người ở một quốc gia kia không có nhà thờ, Hội Thánh, họ nhặt được cuốn Kinh-thánh bằng tiếng anh, của lính Mỹ làm rơi trên hải cảng. Người đó đọc, rồi tin Chúa. Sau đó người này dẫn dắt nhiều người thân và gia đình tin Chúa và chính người đó đã trở thành người “mục sư” cho nhóm người mà anh đã đưa về với Chúa. Trong trường hợp này thì ai là người “xác chứng” cho anh ta rằng anh ta là “tôi tớ Chúa?” Nhưng có ai dám phủ nhận rằng anh ta không phải là tôi tớ Chúa hay không? Hội Thánh mà anh ta đang dẫn dắt đang yêu mến Chúa và kết quả trong sự làm chứng về Phúc âm của Chúa? Có phải là phải có sự xác chứng của ai đó như anh nói, thì một người mới được “công nhận” là tôi tớ hoặc là con cái Chúa, hoặc là một điều gì đó… mới thật sự là đến từ Chúa? Khi nào cần xác chứng thì Chúa sẽ xác chứng, nhưng không phải trong tất cả mọi trường hợp xảy ra Chúa đều phải xác chứng như anh đòi hỏi. Nếu như vậy thì nói như sứ đồ Giăng đã nói: “Cả thế gian không thể chứa hết các sách đã chép (về sự xác chứng) vậy.” (Giăng 21: 25) Bởi vì công việc của Chúa thì ai mà dò cho hết. Những gì chúng ta biết chỉ là giọt nước, còn những gì Chúa làm là hơn cả một đại dương!



Khi chúng ta làm chứng về Chúa cho một ai đó. Sau cùng chúng ta hỏi họ là có muốn tin Chúa hay không, thì có gì sai? Nếu mình không hỏi thì làm sao người ta có cơ hội tiếp nhận Chúa? Phao-lô đã hỏi một số môn đồ ở Ê-phê-sô rằng: “Từ khi anh em tin, đã nhận được báp tem trong Thánh Linh chưa?” (Công-vụ các Sứ-đồ 19: 2) Câu hỏi như vậy thì có gì sai? Nếu mình biết một điều gì tốt mà không giới thiệu, không mời gọi…thì làm sao người ta biết để mà đến, hoặc có cơ hội để nhận lãnh? Mời gọi một người chưa từng tiếp nhận “báp tem trong Thánh Linh” để được báp tem trong Thánh Linh, thì có gì sai? Ngay việc anh cho rằng người ta đặt câu hỏi với người khác như vậy là sai thì đã cho thấy anh đầy sự định kiến, và chính sự định kiến này làm cho anh không nhận được “báp tem trong Thánh Linh” như anh đã cầu xin theo như anh đã nói. Còn định nghĩa về sự “báp tem trong Thánh Linh” theo cách của anh thì do anh moi tìm trong “chữ nghĩa” để cố giải thích theo quan điểm của anh thì nó “đúng” theo quan điểm của anh chứ có phải là chân lý đâu mà anh cho người khác là sai? Có rất nhiều điều anh sai, nhưng những người hiểu biết thì người ta không thèm quan tâm, còn người không hiểu biết thì lấy đâu người ta chỉ cho anh biết? Anh cho rằng những điều tiêu cực xảy ra trong Hội Thánh ngày hôm nay là có “nguyên do, nguồn gốc từ việc người ta nói tiếng lạ.” Đó là một nhận định hết sức thành kiến và sai lầm. Như vậy Hội Thánh truyền thống với những tiêu cực cũng không kém thì nguyên nhân từ đâu? Họ không hề nói tiếng lạ?



2. Trí khôn con người hay sự “tỏ ra” và quyền phép?



“Lời nói và sự giảng của tôi chẳng phải bằng bài diễn thuyết khéo léo của sự khôn ngoan, nhưng tại sự tỏ ra Thánh Linh và quyền phép; hầu cho anh em chớ lập đức tin mình trên sự khôn ngoan loài người, bèn là trên quyền phép Đức Chúa Trời.” (I Cô-rinh-tô 2: 4-5)



Sự “tỏ ra” được hiểu là sự khải thị.



Nếu nói về “chữ nghĩa” thì có lẽ không ai hơn Phao-lô. Nhưng những gì Phao-lô nói và giảng không dựa khôn ngoan, trên “chữ nghĩa” hay là tài diễn thuyết, nhưng trên sự “tỏ ra” của Thánh Linh và quyền phép. Những gì anh nói về “tiếng lạ” thì bởi sự “tỏ ra” của Thánh Linh hay là do anh nổ lực moi móc từ trong “chữ nghĩa” theo sự hiểu biết của anh? Những cuốn từ điển do con người biên soạn có gì là tuyệt đối không? Mà cho dù những cuốn từ điển đó có tuyệt đối đi chăng nữa, thì theo sự hiểu biết, định nghĩa, hoặc giải thích của con người… thì có gì bảo đảm là những sự giải thích đó nó không bị lệch lạc? Nhất là khi người đó đã “thủ sẵn” trong mình một “con dao” định kiến? Khi Chúa phán với các môn đồ: “Hãy giữ mình cẩn thận về men của người Pha-ri-si…” Thì họ lại hiểu là vì họ không đem bánh! (Mác 8: 14-20) Lời Chúa phán với họ là lời trực tiếp, không thông qua một bản dịch nào hết, vậy mà họ còn hiểu sai 100%, chứ đừng nói chi là chữ nghĩa của bản dịch này, bản dịch nọ… Phao-lô có thừa “chữ nghĩa,” nhưng ông không cậy vào “chữ nghĩa,” nhưng cậy vào sự “tỏ ra” của Thánh Linh và quyền phép Đức Chúa Trời mà rao giảng, chứ không cậy vào “chữ nghĩa.” Chữ nghĩa mà không có sự “tỏ ra” bởi Thánh Linh và quyền phép Đức Chúa Trời thì chỉ làm cho người ta chết trong tâm linh và lầm lạc vì cách xa lẽ thật (Ô-sê 4:6, II Cô-rinh-tô-tô 3: 6). Trong Chúa, tôi lấy tình yêu thương mà nói với anh rằng: Chính anh cần được giải cứu khỏi sự cột trói của “chữ nghĩa.” Có lần anh cũng đã sai lầm, nếu tôi không cậy ơn Chúa mà chỉ cho anh thấy, một sự sai lầm “chết người” khi anh cho rằng “con vật cũng có linh hồn”(?) Một sự sai lầm xuất phát từ “chữ nghĩa” anh thấy không? Lời giảng về “Thập-tự-giá” là bởi sự tỏ ra của Thánh Linh và quyền phép hay là bởi chữ nghĩa? Nếu Tin-lành mà chỉ rao giảng bằng sự khôn khéo, bằng “chữ nghĩa” thì như Phao-lô nói: Thập-tự-giá của Đấng Christ trở nên vô ích. Vì vậy, ai tưởng mình khôn ngoan hãy trở nên ngu dại để nhận lãnh sự khôn ngoan từ trên ban cho (I Cô-rinh-tô-tô 8: 2).



“Tôi cầu Đức Chúa Trời của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, là Cha vinh hiển, ban thần trí của sự khôn sáng và của sự tỏ ra cho anh em, để nhận biết Ngài…” (Ê-phê-sô 1: 17)



Chúng ta cần “thần trí của sự khôn sáng” và của sự “tỏ ra” chứ không phải lấy trí khôn của riêng mình mà moi tìm trong chữ nghĩa, rồi kết luận thế này thế nọ. Điều đó không những chúng ta phạm tội chống lại công việc của Thánh Linh mà vô tình chúng ta làm cho những người nghe theo mình bị đưa vào sự sai lạc.



Khi vào thành Sa-ma-ri, ở đó người ta không tiếp Chúa, nên Gia-cơ và Giăng là hai môn đệ của Chúa đã nói với Chúa rằng: “ Thưa Chúa! Chúa có muốn chúng tôi khiến lửa từ trên trời xuống để thiêu họ chăng?” Nhưng Chúa đã quở trach hai người rằng: “Các ngươi không biết tâm thần nào xui giục mình” (Lu-ca 9: 55). Đôi khi chúng ta cũng làm một điều mà chúng ta không biết “tâm thần nào xui dục mình,” nhất là khi chúng ta đã sẳn ở trong sự định kiến tối tăm. Phao-lô dạy Ti-mô-thê: “Đừng in trí trước, phàm việc gì cũng chớ tây vị bên nào.” (I Ti-mô-thê 6: 21) Một khi mình “in trí trước” một điều gì (định kiến có sẵn) thì sự tìm tòi nghiên cứu, “moi tìm trong chữ nghĩa” của chúng ta, sẽ đi theo hướng đó, rồi chúng ta cho rằng Lời Chúa dạy như vậy.



Khi Chúa sắp lên thập-tự-giá, và sau khi được Chúa tỏ cho biết như vậy thì Phi-e-rơ đã đem Chúa riêng ra với một lời khuyên hết sức chân thành: “Lạy Chúa! Đức Chúa Trời nào nỡ vậy?” Nhưng Chúa phán: “Hỡi Sa-tan, hãy lui ra!” Mặc dù chính Phi-e-rơ đang nói, nhưng Chúa không phán là: Hỡi Phi-e-rơ. Mà Chúa phán là : “Hỡi Sa-tan!” Phi-e-rơ rất chân thành không một chút ác ý nào cả. Dầu vậy, đó là sự sai khiến của Sa-tan. Nếu chúng ta không có sự tỏ ra bởi Thánh Linh và quyền phép Chúa, mà chúng ta đang cố cậy trí khôn mình để lý giải việc này, việc nọ… Nhất là mình đang ở trong định kiến và chưa hề kinh nghiệm, thì rất có thể chúng ta đang bị Sa-tan sử khiến mà mình không hay biết. Trước đó vài phút, Phi-e-rơ đã được Chúa khen là sự nhận biết Đấng Christ của ông, không bởi “thịt và huyết” bèn là bởi Thánh Linh ở trên trời. Nhưng chỉ sau vài phút, thì ông đã bị Chúa quở là: “Hỡi Sa-tan!” Huống chi ngày hôm nay, mọi việc chúng ta dường như không cần đến Đức Thánh Linh nữa, bởi vì chúng ta đã có quá nhiều từ điển và sách vở. Mỗi một việc chúng ta dường như đều lôi từ điển và sách vở ra, sau khi nghiên cứu bằng trí khôn, tổng hợp, kết luận… rồi cho rằng Lời Chúa đã dạy như vậy. “Từ điển và sách vở” là gì nếu không phải đó cũng chỉ là “thịt và huyết?” Cái gì mình không biết thì tốt nhất là đừng bàn và cũng không nên khẳng định một cách xác quyết. Đã biết bao nhiêu lần người ta nhầm lẫn vì dựa trên “chữ nghĩa.” Có lẽ do “thấm thía” lời quở trách của Chúa nên trong một thư tín, Phi-e-rơ đã khẳng định rằng: “Không một lời tiên tri nào lấy ý riêng mà giải nghĩa được” (II Phi-e-rơ 1: 20)



3. Lấy sự dối trá làm phiền lòng người công bình



“Vì các ngươi lấy sự dối trá làm buồn lòng kẻ công bình mà ta chưa từng làm cho lo phiền…” (Ê-xê-chi-ên 13: 22)



Chúa chưa làm phiền ai đó, mà mình đã nhơn danh Chúa làm phiền lòng người ta, rồi cho rằng Chúa có bày tỏ cho tôi như vậy!



Gần đây ở Việt Nam, có người đứng lên trong điểm nhóm và nói rằng: “Tôi thấy khải tượng có một người giống như tổng thống Obama, dáng hình to lớn, đang giảng Tin-lành tại Việt Nam, có hằng ngàn, hằng ngàn người tin Chúa… nhưng khi tôi nhìn kỹ thì đó là vị mục sư tổng quản nhiệm của giáo hội chúng ta(?)” Đây là một kiểu lợi dụng những điều thiêng liêng để đánh bóng tên tuổi của một ai đó. Những người làm như vậy đôi khi đã được thuê mướn một cách tinh vi. Lẽ đương nhiên đối với người trưởng thành, ai mà tin điều đó.



Ngày nay, người ta nhân danh những điều thiêng liêng mà phát biểu “vô tội vạ.” Nhất là đôi khi không thích một ai đó hoặc muốn hạ thấp uy tín của một người nào… Người ta lại dựng lên cái gọi là “chiêm bao” thấy ông, bà gì đó đang ở dưới địa ngục chẳng hạn(!) Ngày nay hầu như cái gì người ta cũng làm được cả(?)



Một người hầu việc Chúa dù có gan tới đâu cũng không ai dám tuyên bố là mình “chống tiếng lạ.” Vì như vậy là người đó đã công khai chống lại Kinh-thánh. Người ta không ai chống tiếng lạ cả, nhưng người ta tìm ra hằng trăm lý do để chống những người nói tiếng lạ. Có thể vì định kiến hoặc do “điều gì không biết thì khinh dể” (Giu-đe 10) hoặc là “hay chê bai điều mình không biết.” (II Phi-e-rơ 2: 12) hoặc có biết đi chăng nữa, đôi khi cũng chỉ là sự hiểu biết bởi “thịt và huyết,” mà chưa hề có sự “tỏ ra của Thánh Linh và quyền phép.” Càng dùng trí khôn của mình tìm cách chống trả bao nhiêu, thì càng phạm sai lầm cũng bấy nhiêu. Những người “nói tiếng lạ” họ làm sai, thì mình có quyền chỉ ra cái sai của họ, chứ mình không được phép dựa vào đó mà cho rằng tiếng lạ là đến từ ma quỷ. Đó là một lời xúc phạm đến Đức Thánh Linh một cách tỏ tường.



Chúng ta chỉ nên trao đổi với nhau để hiểu thêm về lẽ thật, mà không nên tìm cách bài bác, hay phủ nhận cách này hay cách khác. Điều đó không những làm buồn lòng Chúa mà còn đưa chúng ta vào chỗ phạm tội với Đức Thánh Linh mà mình không hay.



Nếu muốn cùng nhau hợp tác, để cùng hoàn thành tốt công việc Chúa giao, đặc biệt là chúng ta cùng hướng về dân tộc và Hội Thánh Việt Nam, thì mỗi người chúng ta cần phải biết chấp nhận những khác biệt, nhưng không trái với lẽ thật, lấy tình yêu mà dung chịu lẫn nhau, thì được Chúa đẹp lòng ban ơn. Còn nếu mỗi người tự lo tìm cách bảo vệ quan điểm, định kiến của mình và còn bài bác phủ nhận quan điểm hoặc ân tứ của người khác, mà Chúa ban cho họ thì chúng ta đang làm cản trở công việc Chúa hơn là làm cho đẹp lòng Ngài.



Anh T.H có tiếng là người thẳng thắng. Mong rằng sự thẳng thắng của tôi ở đây cũng không làm anh phiền lòng. Cho dẫu rằng nếu như chúng ta không còn hợp tác với nhau để chung lo công việc Chúa đi chăng nữa, thì chúng ta cũng nên coi nhau là anh em. Dù chúng ta không chấp nhận sự khác biệt, thì sự khác biệt đó vẫn tồn tại trong Hội Thánh của Chúa từ khi thành lập cho đến ngày hôm nay và nó vẫn sẽ còn tồn tại cho đến ngày Chúa trở lại. Tôi vẫn mong tiếp tục hợp tác với anh trong công việc Chúa. Còn nếu Chúa muốn chúng ta “tách biệt” theo kiểu “binh chủng” thì chúng ta vui lòng tách biệt. Nguyện Ý Chúa được nên và Danh Ngài được vinh hiển trong mọi công việc chúng ta làm. Amen!



Người anh em: Huỳnh Thúc Khải.

Sài gòn 30/12/2009